LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

ĐẨY MẠNH VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỈNH LÂM ĐỒNG

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 30 tháng 8 năm 2022

ĐẨY MẠNH VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TRONG NGÀNH GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO  TỈNH LÂM ĐỒNG

                     

                                                    NGUT Huỳnh Văn Bảy

Chủ tịch Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lâm Đồng

 

 Mục tiêu tổng quát của nhiệm vụ phát triển 5 năm (2020 – 2025) của tỉnh Lâm Đồng đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 “…Tiếp tục phát triển nhanh, toàn diện và bền vững, trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước. Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, trọng tâm là tái cơ cấu nông nghiệp, hướng đến ngành nông nghiệp toàn diện và hiện đại, là trung tâm nghiên cứu, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tầm quốc gia và quốc tế. Phát triển du lịch chất lượng cao. Phát triển công nghiệp có chọn lọc. Phát triển mạnh giáo dục và khoa học kỹ thuật; nâng cao vai trò văn hóa, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Quản lý tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu…”. Và một trong bốn khâu đột phá là “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, nhân lực công nghệ thông tin để triển khai hiệu quả chính quyền điện tử, đô thị thông minh, nền kinh tế số; tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Nghị quyết cũng đã nêu ra một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó có nội dung “Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo. Phát triển thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; trung tâm nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo và chuyển giao công nghệ đa ngành, theo chuẩn quốc tế. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục đào tạo. Triển khai thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học – công nghệ, xây dựng thị trường khoa học công nghệ; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ… Xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”.

 Xuất phát từ các định hướng trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, tôi hết sức hoan nghênh và tán đồng chủ trương và mục đích của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng khi tổ chức hội thảo “Thực trạng và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc tập hợp, phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Lâm Đồng”. Cách đặt vấn đề như vậy là rất đúng và rất trúng, nhất là trong Nghị quyết Đại hội đã chỉ rõ “Khoa học và công nghệ chưa có bước phát triển đột phá”. Chưa có bước phát triển đột phá, không chỉ ở thành quả khoa học công nghệ, mà phải chăng còn ở việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, cũng như ở việc tập hợp và phát huy sức mạnh của đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ nói chung và đội ngũ trí thức khoa học nói riêng trong việc đóng góp tài năng và trí tuệ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương? Suy cho cùng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ là cần thiết, là khó khăn; nhưng nếu không tập hợp và phát huy được sức mạnh của đội ngũ khoa học công nghệ, đội ngũ trí thức khoa học thì việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ cũng trở thành vô nghĩa, cũng chỉ là một công việc nửa vời.

 Trong khuôn khổ Hội thảo, tôi xin được trình bày một số ý kiến về việc đẩy mạnh và phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong lãnh vực giáo dục đào tạo tại tỉnh Lâm Đồng.

 I. Tình hình đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý trường học

 1. Kết quả số liệu

Theo số liệu tháng 7/2021 thì tình hình đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên của Ngành Giáo dục – Đào tạo tỉnh Lâm Đồng như sau:

 *Giáo dục Mầm non

Đối tượng

 Số

lượng

                                       Trình độ

  Thạc sĩ

   SL (%)

    Đại học

     SL (%)

   Cao đẳng

    SL (%)

  Trung cấp

    SL (%)

    CBQL

474

12 (2,53%)

453 (95,57%)

  8 (1,69%)

 1 (0,21%)

 Giáo viên

3371

 2 (0,06%)

2218 (65,80%)

901 (26,73%)

250 (7,41%)

  Tổng số

3845

14 (0,03%)

2671(69,46%)

909(23,64%)

251(6,87%)

          Trên chuẩn

       2685 (69,83%)

   Đạt chuẩn

 909 (23,64%)

 Dưới chuẩn

 251 (6,53%)

       *Giáo dục Tiểu học

Đối tượng

 Số

lượng

                                       Trình độ

  Thạc sĩ

  SL (%)

     Đại học

      SL (%)

   Cao đẳng

     SL (%)

  Trung cấp

    SL (%)

   CBQL

536

   16 (3%)

   509 (95 %)

    8 (1,5%)

   3 (0,5%)

Giáo viên

6072

 5 (0,08%)

  4128 (68%)

1632 (26,9%)

307 (5,02%)

Tổng số

6608

21 (0,03%)

4637 (70,2%)

1640(24,81%)

310 (6,87%)

Trên chuẩn

21 (0,03%)

    Đạt chuẩn

 4637 (70,2%)

            Dưới chuẩn

         1950 (29,77%)

        *Giáo dục Trung học cơ sở

Đối tượng

 Số

lượng

                                       Trình độ

  Thạc sĩ

   SL (%)

     Đại học

      SL (%)

   Cao đẳng

     SL (%)

  Trung cấp

    SL (%)

   CBQL

347

35 (10,1%)

 310 (89,3 %)

   2 (0,6%)

 

Giáo viên

4794

34 (0,7%)

3792 (79,1%)

968 (20,2%)

 

Tổng số

5141

69 (1,34%)

4102 (79,78%)

970 (18,88%)

 

Trên chuẩn

69 (1,34%)

   Đạt chuẩn

4102(79,78%)

           Dưới chuẩn

        970 (18,88%)

* Giáo dục Trung học phổ thông

Đối tượng

 Số

lượng

                                       Trình độ

  Tiến sĩ

  SL (%)

        Thạc sĩ

         SL (%)

         Đại học

          SL (%)

Cao đẳng

  SL (%)

   CBQL

  151

  1 (0,6%)

  79 (52,3 %)

    71 (47,1%)

 

Giáo viên

2665

  3 (0,1%)

316 (11,9%)

   2346 (88%)

 

Tổng số

2816

  4 (0,1%)

395 (14,02%)

 2417 (85,88%)

 

            Trên chuẩn

         399 (14,12%)

    Đạt chuẩn

  2417 (85,88%)

 

*Toàn ngành về trình độ

  Đối

tượng

  Số

lượng

                                    Trình độ

  Tiến sĩ

  SL (%)

  Thạc sĩ

  SL (%)

   Đại học

    SL (%)

  Cao đẳng

    SL (%)

Trungcấp

 SL (%)

  CBQL

1508

1 (0,07%)

142 (9,4%)

1343 (89%)

18 (1,2%)

4 (0,33%)

Giáo viên

16902

3 (0,02%)

357 (2,1%)

12484 (73,8%)

3501 (20,7%)

557 (3,4%)

Tổng số

18410

4 (0,02%)

499 (2,7%)

13827 (75,1%)

3519 (19%)

561 (3,2%)

*Toàn ngành về chuẩn yêu cầu theo cấp, bậc học

Đối tượng

Số lượng

   Vượt chuẩn

        SL (%)

     Đạt chuẩn

        SL (%)

    Dưới chuẩn

       SL (%)

  CBQL

   1508

   561 (37,2%)

     935 (62%)

     12 (0,8%)

Giáo viên

  16902

2544 (15,05%)

   12169 (72%)

  2189 (12,95%)

Tổng số

  18410

  3105 (16,9%)

 13104 (71,18%)

  2201 (11,92%)

2. Đánh giá chung về đội ngũ

- Toàn ngành có 77,8% CBQL và giáo viên có trình độ từ đại học trở lên, đây là nguồn đội ngũ trí thức khoa học công nghệ đáng quý để tham gia các hoạt động giáo dục cũng như hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh. Thực tế thì đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong ngành Giáo dục Lâm Đồng đã và đang có nhiều đóng góp lớn cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp khoa học công nghệ cho ngành và cho tỉnh.

- Và theo đánh giá của UBND tỉnh Lâm Đồng thì: Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý có tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn vươn lên trong công tác; số lượng giáo viên giảng dạy cơ bản đáp ứng nhu cầu thực tế của các đơn vị; nhiều cán bộ quản lý, giáo viên có năng lực quản lý, năng lực dạy học khá tốt. Tuy nhiên, trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên của cán bộ quản lý, giáo viên chưa cao; năng lực chuyên môn của một số cán bộ quản lý, giáo viên còn hạn chế, khả năng tiếp thu, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật mới để đáp ứng yêu cầu công tác còn gặp không ít khó khăn. Cơ cấu giáo viên theo môn học ở bậc Tiểu học và bậc Trung học cơ sở chưa đảm bảo khi triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới 2018. (trích Đề án phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030; kèm theo Quyết định số 1750/QĐ-UBND ngày 8/7/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng).

II. Những đề xuất để đẩy mạnh và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng

1. Bồi dưỡng nâng cao trình độ CBQL và giáo viên

- Muốn đẩy mạnh và phát huy vai trò đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong ngành giáo dục, việc đầu tiên cần thực hiện là phải tập trung bồi dưỡng nâng cao trình độ cho CBQL và giáo viên. Đây là một công việc hết sức cần thiết vì để đóng góp vào kết quả khoa học công nghệ thì CBQL, giáo viên phải có trình độ, trình độ càng cao thì sự đóng góp càng nhiều và càng có hiệu quả.

  Theo mục tiêu của Đề án cho từng ngành học, bậc học như sau:

Ngành, bậc học

Mục tiêu đến năm 2025

   Mục tiêu đến năm 2030

      Mầm non

- CBQL: 3,5% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 78% vượt chuẩn

 - CBQL: 5% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 90% vượt chuẩn

      Tiểu học

- CBQL: 4% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 1% vượt chuẩn

- CBQL: 5% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 2% vượt chuẩn

        THCS

- CBQL: 12% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 1,5% vượt chuẩn

- CBQL: 15% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 3% vượt chuẩn

        THPT

- CBQL: 60% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 13% vượt chuẩn

- CBQL: 70% đạt trình độ

Thạc sĩ trở lên

- GV: 15% vượt chuẩn

- Qua đây, chúng ta thấy mục tiêu của đề án là tập trung nâng tỷ lệ vượt chuẩn cho đội ngũ CBQL, song hành với việc nâng cao tỷ lệ vượt chuẩn cho giáo viên. Ở đây, tôi chưa dám lạm bàn về các tỷ lệ mục tiêu đã được UBND tỉnh quyết định. Tôi chỉ xin đề xuất về nội dung bồi dưỡng vượt chuẩn, nhất là cho đội ngũ CBQL. Vì rằng, một thực trạng hiện nay trong Ngành Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng là đa phần cán bộ quản lý giáo dục đều có bằng Thạc sĩ quản lý giáo dục (Theo chương trình phối hợp đào tạo giữa Sở GDĐT và Đại học sư phạm Hà Nội: mỗi năm có 01 lớp với 25 - 30 CBQL, trong 10 năm đã có hơn 200 thạc sĩ và 01 tiến sĩ quản lý giáo dục; nhưng không có ai theo hướng khoa học cơ bản. Từ năm 2014 đến nay, tại cơ quan Văn phòng Sở Giáo dục & Đào tạo Lâm Đồng có 05 tiến sĩ thì trong đó chỉ có 01 tiến sĩ chuyên ngành, còn 04 tiến sĩ quản lý giáo dục hoặc quản lý hành chính). Nên chăng ngoài chương trình Thạc sĩ quản lý giáo dục, chúng ta nên chú trọng và khuyến khích các CBQL, giáo viên nghiên cứu theo học vượt chuẩn các ngành khoa học cơ bản phù hợp với chuyên môn được đào tạo của mỗi người. Có như vậy thì sự đóng góp vào hoạt động khoa học công nghệ của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong ngành giáo dục sẽ được phong phú và đa dạng hơn, không phải chỉ bó hẹp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.

- Bên cạnh đó, địa phương cần nghiên cứu để nâng cao mức đãi ngộ thu hút đội ngũ trí thức học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ. Theo tôi biết thì hiện nay, địa phương Lâm Đồng vẫn còn đang thực hiện Quyết định 3159/QĐ-UBND ngày 24/11/2008 về việc ban hành Đề án đào tạo, nâng cao và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Theo đó thì mức khen thưởng cho các công chức, viên chức trong việc học tập nâng cao trình độ như sau:

*Mức khen thưởng đối với đào tạo trong nước:

- Bằng tiến sĩ: 20.000.000 đồng/người.

- Bằng thạc sĩ; bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa II; bác sĩ nội trú: 10.000.000 đồng/người.

- Bằng bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa I: 7.000.000 đồng/người.

- Bằng đại học, cử nhân loại giỏi: 3.000.000 đồng/người.

- Bằng Cao cấp lý luận chính trị loại giỏi: 2.000.000 đồng/người.

- Bằng cao đẳng loại giỏi: 1.500.000 đồng/người.

- Bằng Trung cấp loại giỏi: 1.000.000 đồng/người

*Các bằng cấp nêu trên được đào tạo ở nước ngoài thì mức thưởng gấp đôi mức thưởng đối với đào tạo trong nước.

Thiết nghĩ UBND tỉnh Lâm Đồng nên nghiên cứu và xây dựng một đề án mới thay thế Đề án năm 2008 đã hết thời hiệu, mức khen thưởng không còn phù hợp sau gần 15 năm thực hiện, chưa kể chất lượng của các loại bằng cấp cũng chưa thật đảm bảo trong xu hướng chung của các cơ sở đào tạo đang tìm mọi cách để thu hút nguồn học viên, kể cả tạo ra chất lượng ảo, chạy theo số lượng hơn chất lượng thật.

- Ngành Giáo dục cũng cần có biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả số CBQL, giáo viên được cho đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; tránh tình trạng chảy máu chất xám sau khi đã dùng ngân sách nhà nước để nâng cao trình độ rồi lại đi địa phương khác, ngành khác, thậm chí đi nước ngoài, nghỉ hưu. (Trong thực tế cũng đã có giáo viên được đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài, nhưng sau đó lại định cư luôn ở nước ngoài; hay xin thuyên chuyển về thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi vừa nhận bằng thạc sĩ; hoặc thời điểm nhận bằng tiến sĩ cũng là thời điểm có quyết định nghỉ hưu). Đành rằng các CBQL, giáo viên này cũng đã thực hiện việc hoàn trả chi phí cho quá trình học tập theo quy định nhà nước, nhưng còn tình cảm đồng nghiệp, còn bao nhiêu công sức và thời gian mà đồng nghiệp phải bỏ ra để gánh vác công việc cho các CBQL, giáo viên này trong thời gian đi học. Những điều ấy, liên quan chặt chẽ đến phẩm giá và lòng tự trọng của mỗi người, không thể tính toán cụ thể bằng tiền bạc được và không có gì đánh đổi được.

2. Tạo cơ chế để đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong ngành Giáo dục và Đào tạo tham gia vào các hoạt động giáo dục và  hoạt động khoa học công nghệ

- Trong thời gian qua, dưới sự điều hành và quản lý của Lãnh đạo Ngành, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ trong ngành giáo dục đã tham gia nhiều hoạt động khoa học trong lãnh vực giáo dục: Tham gia xây dựng các đề án phát triển giáo dục, các nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo tại địa phương, kế hoạch triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, tham gia góp ý chương trình và sách giáo khoa theo lộ trình triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cũng như tổ chức Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh phổ thông các cấp, tham gia Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh phổ thông cấp quốc gia và quốc tế (Trong 10 năm qua, có hàng chục dự án đạt giải cấp quốc gia, 5 dự án đạt giải quốc tế), góp phần đổi mới phương pháp và tư duy dạy học trong toàn ngành. Trong nhiều năm qua, tỷ lệ học sinh và giáo viên, CBQL tham gia vào các Hội thi, Cuộc thi do Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Lâm Đồng chiếm đa số, nhiều giải pháp đạt giải cao trong nước và trong tỉnh. Gần đây, Sở GDĐT Lâm Đồng thành lập được Hội đồng bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục.

- Bên cạnh những đóng góp nhất định như đã nêu, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ của tỉnh cần chú trọng nâng cao chất lượng giám sát, phản biện chất lượng chương trình và sách giáo khoa, nâng cao tính khách quan khoa học, tránh áp đặt định hướng xuôi chiều như các địa phương trong toàn quốc mà Bộ sách Cánh diều ở lớp 1 là một ví dụ điển hình. Cần chú trọng việc phản biện trên cơ sở các đề án giáo dục triển khai tại địa phương trên tinh thần nghiêm túc, khoa học.

Cán bộ quản lý giáo dục các cấp cần vận động, động viên học sinh, giáo viên tham gia vào các cuộc thi, hội thi nghiên cứu khoa học, mang hàm lượng tri thức cao như Đường lên đỉnh Olympia, tham gia viết bài cho các tạp chí chuyên ngành (Toán học, Vật lý, Hóa học, Văn học…).

Mặt khác, ngoài cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh phổ thông, ngành Giáo dục nên tổ chức thêm hội thi sáng tạo kỹ thuật dành cho CBQL và giáo viên, qua đó mà tuyển chọn các giải pháp có chất lượng dự thi cấp tỉnh do Liên hiệp Hội tổ chức (thực tế qua hội thi các năm qua, một số CBQL, giáo viên đã tham gia hội thi cấp tỉnh một cách tự phát, không qua sự tuyển chọn của ngành giáo dục – đó là một điều thật sự đáng tiếc).

Ngành cũng nên vận động CBQL, giáo viên tham gia viết sách giáo khoa, sách tham khảo, trước mắt là phục vụ cho ngành Giáo dục (Từ trước đến nay, theo tôi được biết chỉ có Tiến sĩ Lê Cao Phan – giảng viên trường CĐSP Đà Lạt có tham gia viết một số sách về Vật lý cấp 2).

- Chú trọng khuyến khích, vận động, động viên CBQL, giáo viên chủ động, tự giác tham gia các cuộc thi, hội thi về khoa học công nghệ ngoài các cuộc thi do Ngành phát động. Làm như vậy để khai thác được tiềm năng khoa học công nghệ trong đội ngũ trí thức trong ngành giáo dục, mở rộng phạm vi nghiên cứu, phát huy được tác dụng đa ngành, đa lĩnh vực.

3. Chú trọng khai thác nguồn trí thức khoa học công nghệ từ các CBQL, giáo viên hưu trí

 Liên hiệp Hội tỉnh Lâm Đồng đã thành công trong việc mời các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực tham gia hoạt động khoa học công nghệ, trong đó có nhiều chuyên gia đã lớn tuổi, đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn rất tâm huyết, vẫn còn năng lực và tư duy bắt kịp với những đổi mới khoa học công nghệ.

 Từ kinh nghiệm của Liên hiệp Hội tỉnh Lâm Đồng, thiết nghĩ Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng nên cố gắng khai thác và sử dụng nguồn tri thức khoa học công nghệ từ các CBQL, giáo viên hưu trí. Kinh phí nhà nước, kinh phí ngành, kinh phí cá nhân và gia đình bỏ ra để đào tạo, bồi dưỡng cho một trí thức khoa học công nghệ là không nhỏ, kinh nghiệm tích lũy được trong cả đời là rất lớn, thật là một sự lãng phí lớn về nguồn tri thức nếu không sử dụng những nhà trí thức đã nghỉ hưu. Thực tế, đã có 1 vị tiến sĩ trong ngành giáo dục địa phương sau khi nghỉ hưu chỉ dùng bằng tiến sĩ để cho thuê.

 Hội Cựu Giáo chức và Bộ Giáo dục Đào tạo đã có chủ trương thực hiện “4 cùng”:

+ Cùng đánh giá thực tiễn và chất lượng giáo dục;

+ Cùng bàn giải pháp đổi mới;

+ Cùng tổ chức một số hoạt động;

+ Cùng chăm lo đời sống đội ngũ nhà giáo đương chức và nghỉ hưu.

Hội viên Hội CGC với vai trò “Nhà giáo – Nhà trí thức – Người cao tuổi” với tình cảm và tâm huyết, trách nhiệm với Ngành, luôn sẵn sàng tham gia các hoạt động giáo dục, hoạt động khoa học công nghệ trong Ngành, cũng như trong tỉnh. Thiết nghĩ, Sở Giáo dục và Đào tạo và Hội CGC tỉnh Lâm Đồng phải cùng nhau xây dựng và thực hiện Quy chế phối hợp để triển khai thực hiện chủ trương “4 cùng” của Bộ và Hội CGC Việt Nam, qua đó nhắm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tri thức khoa học công nghệ từ các nhà giáo đã nghỉ hưu vào những hoạt động giáo dục và những hoạt động khoa học công nghệ trong ngành, cũng như ở địa phương. Qua đó, không chỉ Ngành và địa phương được hưởng lợi mà bản thân các nhà giáo đã nghỉ hưu cũng có được niềm vui vì thấy mình vẫn có ích cho ngành và cho xã hội./.

 

 

Tin liên quan