NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
QUA GÓC NHÌN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
ThS. Đoàn Văn Thanh
Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Đắk Lắk
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Do vậy, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể ở tỉnh Đắk Lắk đã nghiêm túc triển khai thực hiện kịp thời theo lộ trình và kế hoạch cụ thể. Hằng năm đều có báo cáo đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế thiếu sót, chỉ ra những nguyên nhân… trên cơ sở đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho năm tiếp theo. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đắk Lắk cũng gặp không ít khó khăn, bất cập, ảnh hưởng đến phát triển lâu dài, bền vững ở khu vực nông thôn. Một số hạn chế cần khắc phục đó là tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu đặt ra; kết quả đạt được ở các địa phương có sự chênh lệch khá xa giữa khu vực đồng bằng và miền núi; ngân sách đầu tư kết cấu hạ tầng ở các xã miền núi còn hạn chế; đời sống người dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; vẫn còn một bộ phận cán bộ, trí thức và người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước nên tính chủ động, sáng tạo chưa cao.
Chính vì vậy, Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Đắk Lắk đã nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk qua việc phát huy trí tuệ của các nhà quản lý, nhà khoa học trên địa bàn tỉnh trong việc xây dựng nông thôn mới. Mười hai giải pháp đã được xác định là:
1. Kiện toàn tổ chức làm công tác xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, trong đó chú trọng phát huy tinh thần làm chủ, tình làng nghĩa xóm, tương thân tương ái của người dân
- Tiếp tục kiện toàn và củng cố Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia và hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới cấp tỉnh, huyện với chức năng là cơ quan quản lý, điều phối đa ngành, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên cơ sở hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp đã có để tiếp tục tham mưu, phối hợp thực hiện hiệu quả 11 nội dung, thành phần của chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng Nông thôn mới (NTM) và 06 chương trình, dự án chuyên đề trọng tâm nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng đời sống của người dân nông thôn và giải quyết các vấn đề bức xúc, tồn tại trong xây dựng NTM nổi lên sau 10 năm thực hiện, gồm: Chương trình khoa học, công nghệ phục vụ xây dựng NTM; Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); Đề án về phát triển du lịch nông thôn gắn với bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống trong xây dựng NTM; Đề án môi trường, vệ sinh, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn; Đề án chuyển đổi số trong xây dựng NTM, hướng tới NTM thông minh; Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng NTM. Ở cấp xã thành lập Ban Quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia xã; ở cấp thôn thành lập Ban Quản lý thôn, buôn. Chú trọng bố trí đủ số lượng cán bộ, công chức theo hướng chuyên trách, chuyên nghiệp, giỏi về chuyên môn, tâm huyết để đáp ứng yêu cầu công việc. Đẩy mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác xây dựng NTM, đặc biệt chú trọng công tác quản lý, thống kê, cập nhật dữ liệu cơ sở, định kỳ tổng hợp báo cáo kịp thời theo quy định.
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các đoàn thể, các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch cụ thể tổ chức triển khai thực hiện; phổ biến quán triệt và tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030 bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng thường xuyên liên tục. Chương trình NTM là một chương trình phát triển tổng hợp về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh trật tự; cộng đồng dân cư là chủ thể trung tâm; xây dựng NTM tại địa bàn, lấy nội lực là chính.
- Duy trì thường xuyên, liên tục việc phát động thi đua xây dựng NTM trong toàn tỉnh và từng địa phương nhằm tạo khí thế sôi nổi trong tổ chức thực hiện. Nội dung xây dựng NTM phải trở thành nhiệm vụ chính trị thường xuyên của các địa phương và các cơ quan có liên quan. Hình thức và nội dung thi đua cần có tính hấp dẫn, thu hút người dân đồng thuận tham gia, hưởng ứng tích cực và đạt hiệu quả.
2. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và người dân trong xây dựng nông thôn mới
Nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp và cả hệ thống chính trị trong xây dựng NTM, nhất là vai trò của người đứng đầu, phải xem xây dựng NTM là một cuộc cách mạng, một nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần thực hiện kiên trì, kiên nhẫn, thường xuyên và liên tục. Phải xác định vai trò chủ thể của người dân trong các công việc cụ thể. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch đối với mọi hoạt động xây dựng NTM, đặc biệt là các công trình đầu tư theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
3. Nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch về phát triển nông nghiệp, nông thôn
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với quy hoạch tỉnh; mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và tình hình thực tế của địa phương, nhất là quy hoạch vùng sản xuất các sản phẩm chủ lực gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; quy hoạch sắp xếp lại các khu dân cư; quy hoạch các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn cho phù hợp. Đồng thời tiến hành công bố, cắm mốc, ban hành quy chế quản lý và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy hoạch, kế hoạch.
4. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản, đồng bộ, đảm bảo kết nối nông thôn - đô thị và kết nối các địa phương
Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống hạ tầng cơ bản phục vụ sản xuất và dân sinh ở nông thôn (giao thông, điện, thủy lợi, trường học, trạm y tế, nước sạch tập trung…), theo hướng đáp ứng yêu cầu, nâng cao chất lượng gắn với ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông ở những địa bàn khó khăn do đặc thù về điều kiện địa hình, địa chất, tạo sức bật để các xã khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị, từng bước bắt kịp tốc độ phát triển chung của tỉnh, tạo kết nối đồng bộ, nhất là kết nối liên xã, liên huyện. Ưu tiên đầu tư hình thành và phát triển hệ thống thu mua, kết nối, cung ứng nông sản hiện đại, cơ sở hạ tầng thương mại gắn với vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn.
Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ thông tin - truyền thông, bảo đảm an toàn, đồng bộ, kết nối liên ngành và liên huyện, liên tỉnh.
5. Rà soát, xây dựng lộ trình các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; huyện đạt chuẩn nông thôn mới, thị xã/thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp, đảm bảo hoàn thành mục tiêu của chương trình trên địa bàn toàn tỉnh và ở từng địa phương
Phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, địa phương. Thực hiện xây dựng NTM cần chủ động, toàn diện, đồng bộ, đi vào chiều sâu và thực chất. Cấp ủy các cấp cần phát huy tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình hiệu quả.
6. Xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế thống nhất huy động và bố trí đủ nguồn lực thực hiện chương trình nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng NTM, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030; ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình theo thẩm quyền; chỉ đạo các địa phương chủ động ban hành các cơ chế đặc thù, hỗ trợ thực hiện các nội dung của chương trình theo hướng nâng cao chất lượng, đi vào chiều sâu và bền vững; đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp thích hợp và đủ mạnh để thực sự khuyến khích việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết, hợp tác, ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn phát triển sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chú trọng công nghiệp chế biến nông sản và thu hút nhiều lao động.
Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện chương trình. Đồng thời hướng dẫn, đôn đốc các địa phương chủ động lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình MTQG giảm nghèo bền vững và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; tăng cường các hình thức hợp tác công tư và xã hội hóa để thu hút đầu tư vào bảo vệ và xử lý môi trường, giao thông nông thôn, hạ tầng thương mại, cung cấp nước sạch, dịch vụ văn hóa - thể thao, dịch vụ y tế; có giải pháp khắc phục, không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản trong chương trình NTM, công khai các khoản đóng góp của dân theo nguyên tắc tự nguyện và do Hội đồng Nhân dân xã thông qua, không được huy động quá sức dân. Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương sẽ tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù của tỉnh, phù hợp với tình hình thực tế của các xã trên địa bàn, nhằm tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng NTM theo từng khu vực.
Các địa phương căn cứ các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình giai đoạn 2021 - 2025 để chủ động lựa chọn nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, tập trung chỉ đạo và bố trí đủ nguồn lực để thực hiện, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của chương trình, trong đó có lộ trình ưu tiên cho những xã đăng ký đạt chuẩn NTM trong kế hoạch của tỉnh, đồng thời quan tâm đầu tư hợp lý cho những xã thuộc các địa bàn khó khăn, vùng dồng bào dân tộc, xã biên giới nhằm nâng cao số tiêu chí đạt chuẩn. Tập trung giải quyết, xử lý các vấn đề bức thiết tại địa phương như: cung cấp nước sạch; thu gom, xử lý chất thải, nước thải; ứng phó với biến đổi khí hậu, ứng dụng công nghệ thông tin...
Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương sẽ tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù của tỉnh, phù hợp với tình hình thực tế của các xã trên địa bàn, nhằm tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng NTM theo từng khu vực.
Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ chương trình OCOP để khuyến khích việc phát triển sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị, phù hợp với lợi thế và điều kiện của địa phương. Triển khai tốt các hoạt động xúc tiến thương mại, liên kết, kết nối cung - cầu giữa các chủ thể, các nhà phân phối trong và ngoài tỉnh, xây dựng được hệ thống giám sát, quản lý sản phẩm OCOP từ Trung ương đến địa phương.
7. Phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập người dân theo hướng bền vững, trong đó, chú trọng khai thác được lợi thế của mỗi địa phương
Tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn, nhất là việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất và quản trị sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; tập trung hỗ trợ hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị bền vững với quy mô sản xuất hàng hóa lớn đối với các nhóm sản phẩm chủ lực; đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình Hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 17/3/2020 của Tỉnh ủy về Phát triển kinh tế tập thể; triển khai đồng bộ, hiệu quả Chương trình OCOP. Đổi mới phương thức thực hiện và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng gắn đào tạo nghề với triển khai các mô hình, dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị cụ thể, theo nhu cầu hoặc dự án đầu tư ở nông thôn của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2025 để góp phần nghiên cứu, giải quyết các vấn đề từ thực tiễn đặt ra trong phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của người dân, phù hợp với điều kiện đặc thù của các địa phương; xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện chương trình khoa học công nghệ và tổng kết, đánh giá, nhân rộng các mô hình hiệu quả vào thực tiễn.
Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục phát triển các sản phẩm, ngành nghề nông thôn theo chương trình OCOP nhằm phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên như: địa hình, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, hạ tầng kinh tế xã hội; thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch nông thôn, cộng đồng du lịch và điểm dịch vụ du lịch nông thôn mới.
Quan tâm đến trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển lâm nghiệp bền vững; phát huy lợi thế về tài nguyên ao hồ, sông suối để phát triển ngành thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững.
Thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư vào nông nghiệp quy mô lớn, lĩnh vực chế biến nông sản và lĩnh vực phi nông nghiệp, tạo nhiều việc làm. Hình thành hệ thống trung tâm kết nối, xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm gắn với chuỗi các chợ đầu mối, trung tâm cung ứng hàng nông sản.
8. Định hướng chuyển đổi số trong xây dựng NTM trên địa bàn
Thúc đẩy quá trình số hóa, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong xây dựng NTM; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số nhằm thay đổi căn bản hoạt động quản lý, điều hành, giám sát của cơ quan chính quyền các cấp đối với xây dựng NTM.
9. Bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan nông thôn sáng - xanh - sạch - đẹp
Phải đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường ở nông thôn (tăng tỷ lệ chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, bao gói thuốc bảo vệ thực vật được phân loại, thu gom và xử lý). Thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư các khu xử lý rác tập trung quy mô liên xã, liên huyện, đồng thời khuyến khích phát triển các mô hình xử lý nước thải sinh hoạt quy mô hộ, cấp thôn trong cộng đồng dân cư, mô hình thu gom thuốc bảo vệ thực vật. Tiếp tục phát động và duy trì các phong trào nói không với rác thải nhựa; tái sử dụng chất thải nông nghiệp đảm bảo đúng quy định; cải tạo cảnh quan môi trường; phát triển, nhân rộng các mô hình phân loại rác tại nguồn, tái sử dụng các loại chất thải ngay từ nguồn phát sinh theo nguyên lý “kinh tế tuần hoàn". Tập trung phát triển các mô hình thôn, xóm sáng, xanh, sạch, đẹp làm tiền đề cho phát triển du lịch nông thôn trên địa bàn tỉnh về lâu dài. Đẩy mạnh xử lý môi trường ở những nơi gây ô nhiễm nghiêm trọng (làng nghề, bãi tập trung chôn lấp, xử lý rác, nước thải...).
Triển khai hiệu quả, đồng bộ các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn nông thôn; xây dựng gia đình “5 không, 3 sạch”.
Nâng cao tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chuẩn theo hệ thống tập trung; khuyến khích các mô hình đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch tập trung theo hình thức xã hội hóa, có sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; các mô hình cấp nước uống cho trường học, trạm y tế tại các xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn…
10. Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa cơ sở và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế du lịch nông thôn
Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, phổ cập giáo dục tiểu học là giáo dục bắt buộc, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, ưu tiên các chính sách để hỗ trợ khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn vùng miền núi, khu công nghiệp, để nâng cao tỷ lệ huy động trẻ đến trường.
Chú trọng nâng cao hiệu quả của y tế cộng đồng cấp xã và cấp huyện đảm bảo hiệu quả phòng chống bệnh lây nhiễm và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân nông thôn; chú trọng phát triển giáo dục nông thôn, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao ở nông thôn.
Đẩy mạnh phát triển du lịch nông thôn gắn với xây dựng NTM, trong đó tập trung: phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống điểm đến và sản phẩm du lịch nông thôn đặc trưng gắn với xây dựng NTM, ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch như sinh thái nông nghiệp, trải nghiệm văn hóa, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, du lịch cộng đồng, du lịch làng nghề; phát triển hàng hóa nông nghiệp phục vụ tiêu dùng du lịch: quà tặng, lưu niệm, trang trí; mỹ phẩm, dược phẩm chăm sóc sức khỏe; triển khai hiệu quả đề án phát triển du lịch nông thôn gắn với xây dựng NTM, trong đó, chú trọng phát triển các mô hình du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
11. Quốc phòng và an ninh
Tăng cường phát huy vai trò tự quản, sự tham gia của người dân đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn.
Xây dựng lực lượng dân quân rộng khắp, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ cơ sở, là “điểm tựa” quan trọng trong chiến lược phòng thủ; đẩy mạnh hoạt động xây dựng và phát triển các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, xã đặc biệt khó khăn, biên giới, góp phần tích cực xây dựng địa bàn nông thôn biên giới vững mạnh; triển khai thực hiện hiệu quả 3 nội dung chỉ tiêu về quốc phòng theo chỉ tiêu 19.1 trong Chương trình NTM.
12. Tăng cường công tác giám sát, đánh giá thực hiện chương trình; nâng cao năng lực xây dựng NTM; truyền thông về xây dựng NTM
Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện chương trình; xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầu quản lý chương trình, đặc biệt xây dựng hệ thống giám sát thông qua cơ sở dữ liệu, cập nhật thường xuyên kết quả xây dựng NTM chi tiết tới các xã, thôn, buôn, công trình hạ tầng, sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh; nhân rộng mô hình giám sát an ninh hiện đại và giám sát cộng đồng; tiếp tục tăng cường nâng cao năng lực, chuyển đổi tư duy cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng NTM các cấp, đặc biệt cán bộ cơ sở. Đẩy mạnh, đa dạng hình thức thông tin, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, người dân, thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông về xây dựng NTM.
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá thực hiện chương trình; phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và đặc biệt là giám sát của nhân dân đối với xây dựng NTM. Định kỳ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức điều tra, đánh giá sự hài lòng của người dân đối với tiến độ và kết quả xây dựng NTM trên địa bàn./.
Online: 22
Ngày: 591Tháng: 29852
Tổng: 1216403