NHỮNG SUY NGẪM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ “NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO”
PGS.TS. Nguyễn Mộng Sinh
Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT Lâm Đồng
“Nhân lực” hiểu một cách nôm na, khái quát là “sức lực”, “sức vóc” của con người.
Đối với từng cá nhân, đó là kết quả tổng hòa mối quan hệ tương tác và phụ thuôc lẫn nhau của 5 yếu tố hợp phần: thể lực, tâm lực, trí lực, năng lực và nghị lực.
Việc xem xét “nguồn nhân lực có chất lượng”, “nguồn nhân lực chất lượng cao” của từng cá nhân nên coi là các nội dung có tính định hướng được rút ra từ “nguồn nhân lực” chung của cá nhân.
Từ cách tiếp cận như vậy thì cái gọi là “nguồn nhân lực” của một cộng đồng, một xã hội, một dân tộc, một quốc gia là kết quả sự tập hợp “nguồn nhân lực cá nhân” của toàn thể các thành viên trong xã hội mà thành.
Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề “nguồn nhân lực” thì các cộng đồng xã hội hay thiên về khía cạnh “nguồn nhân lực lao động” (cả trí óc và chân tay) tức là giới hạn trong phạm vi sản xuất của cải vật chất và tinh thần. Từ đó khi sử dụng cụm từ “nguồn nhân lực có chất lượng” thường hiểu đó là nguồn nhân lực lao động có năng suất, hiệu quả của xã hội và “nguồn nhân lực chất lượng cao” là nguồn nhân lực lao động không những có năng suất, hiệu quả mà còn là nguồn nhân lực thể hiện rõ các phẩm chất đổi mới và sáng tạo trong hoạt động lao động của mình.
Với nội hàm mở rộng mang tính biện chứng, toàn diện, có thể nhìn nhận nguồn nhân lực của con người là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người cho cả cuộc đời, là nguồn năng lượng cho con người tồn tại, phát triển và hoàn thiện.
Còn đối với cộng đồng xã hội “nguồn nhân lực” là yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất, là một trong những nguồn năng lượng thiết yếu nhất cho sự tổ chức xây dựng, hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng xã hội.
Để sống, hoạt động và có hạnh phúc, con người phải có nguồn nhân lực của riêng mình bằng cách tự thân vận động, tự rèn luyện, tự phấn đấu là chính để đạt được các tiêu chí cần thiết cho cả 5 yếu tố hợp phần “thể lực”, “tâm lực”, trí lực”, “năng lực”, “nghị lực” trong môi trường xã hội cho trước và kết hợp, khai thác, sử dụng được sự tác động hỗ trợ, giúp đỡ của các thành viên xã hội có mối quan hệ tương tác liên quan và của toàn xã hội nói chung.
Như vậy, việc xây dựng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải được coi trước hết là nhiệm vụ thiết yếu nhất, là trách nhiệm lớn nhất của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội, sau đó mới đến nhiệm vụ, trách nhiệm thuộc về xã hội, các thiết chế của xã hội. Ở đây sẽ không có chỗ cho sự dựa dẫm, trông chờ, ỷ lại. Nếu mỗi cá nhân không có nhận thức chính xác về trách nhiệm của mình về việc tự thân vận động, phấn đấu, thì tất cả những chính sách, giải pháp có liên quan mà các thiết chế xã hội định ra sẽ không thể nào thu được hiệu quả như mong muốn.
Có nhiều biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của mỗi cá thể và trong đời sống cộng đồng xã hội về chất lượng cũng như mức độ hoàn thiện của nguồn nhân lực cá nhân. Thêm vào đó, ít nhiều cũng đã xác lập được các tiêu chí để nhìn nhận, đánh giá như trình độ học vấn, trình độ nhận thức tư tưởng, trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề… Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá như vậy mà mỗi cá nhân tự mình hoặc cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của xã hội mà xây dựng, phấn đấu nâng cao, hoàn thiện nguồn nhân lực của chính mình. Thành tựu, thành công của cá nhân đồng nhất với thành tựu, thành công của xã hội.
Nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ XI nhiệm kỳ 2020 – 2025, dễ dàng nhận thấy hầu như tất cả các khía cạnh của vấn đề “nguồn nhân lực” đã được làm rõ: những kết quả, thành tựu, thành công đạt được và những khiếm khuyết, tồn tại của giai đoạn trước những nội dung yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, địa phương ở giai đoạn tiếp theo cùng những giải pháp lớn, tổng thể để thực hiện.
Vấn đề đặt ra có lẽ là việc cụ thể hóa, chi tiết hóa các nội dung nhiệm vụ cùng những giải pháp đã được xác định để thực thi, tức là đưa Nghị quyết vào cuộc sống và thực tiễn.
Để góp phần thực tiễn hóa các chủ trương, chính sách cũng như các giải pháp, xin chia sẻ một vài ý tưởng sau:
Một là nên làm rõ nội hàm của việc xây dựng nguồn nhân lực của mỗi cá nhân theo một số giai đoạn chủ yếu của đời người, thí dụ: giai đoạn ấu thơ (từ lúc được sinh ra đến khi học xong bậc tiểu học), giai đoạn trưởng thành (khoảng từ 10 đến 20 tuổi), giai đoạn lao động làm trách nhiệm công dân (20 – 60 tuổi) và giai đoạn hưu trí (sau 60 tuổi).
Hai là nên xác lập các yêu cầu cụ thể (dưới dạng các tiêu chí về phẩm chất, nhân cách, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp…) cho từng nhóm người lao động hoặc hoạt động cụ thể ở các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp khác nhau (như quản trị hành chính, quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo quản lý các thiết chế xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, văn học nghệ thuật…).
Ba là nên tạo dựng “môi trường sinh thái” bền vững cho phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng với những đòi hỏi có tính đặc thù của môi trường này như dân chủ và tự do (cho đổi mới, sáng tạo) như tính liên tục không gián đoạn, đứt đoạn của hoạt động chuyên môn nghề nghiệp (nhằm tích lũy trí thức, kinh nghiệm, kỹ năng…) như giao lưu nghề nghiệp, như nhu cầu được tôn vinh, tiếp cận, tiếp xúc, lắng nghe, chia sẻ, động viên, khích lệ…
Bốn là nên phân định các giải pháp thiết thực cụ thể cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện có (trên cơ sở đánh giá chính xác hiện trạng và xác định nhu cầu) cho nguồn nhân lực kế cận và cho nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của địa phương trong tương lai với tầm nhìn khoảng 20 năm (cho trước và sau năm 2045).
Năm là nên có những quy chế, quy định và tiếp theo là những chương trình, kế hoạch cụ thể cho sự liên kết, phối hợp, hợp tác của toàn bộ thiết chế xã hội, toàn bộ các hệ thống công quyền, hành chính, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong hoạt động thực thi việc xây dựng, sử dụng nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh nhà.
Sáu là nên khắc phục những khiếm khuyết trong việc sử dụng nguồn nhân lực thông qua việc bổ nhiệm, thuyên chuyển cán bộ, đặc biệt là trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng và chính quyền Nhà nước.
Các trường hợp đề bạt, thuyên chuyển cán bộ không có hiệu quả, không đạt yêu cầu như mong muốn thường xuất phát từ việc coi nhẹ tính chuyên nghiệp, trí thức, kinh nghiệm và các kỹ năng nghiệp vụ của đối tượng đối với vị trí công tác mới mà họ được đề bạt, thuyên chuyển. Thông thường tính chuyên nghiệp và các kỹ năng nghiệp vụ tùy theo lĩnh vực hoạt động và tính chất công việc mà đòi hỏi độ dài của thời gian cần cho sự tích lũy qua việc học tập, tự đào tạo, tự phấn đấu của người cán bộ, công chức. Xét từ góc độ này thì việc đề bạt cán bộ (nhân lực chất lượng cao) từ một vị trí quyền lực thấp lên một vị trí quyền lực cao hơn trong cùng một tổ chức, một cơ quan mà bản thân người đó đã có thâm niên hoạt động là thuận lợi hơn cả. Sự khó khăn hơn một chút nếu đề bạt, điều động, thuyên chuyển cán bộ sang một đơn vị khác, một cơ quan khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động do người được thuyên chuyển mặc dù có sẵn vốn chuyên nghiệp vẫn cần một thời gian nhất định (ngắn hay dài tùy thuộc vào khả năng của người đó) để tìm hiểu, làm quen và thâm nhập vào cộng đồng mới của mình. Rất nên hạn chế hoặc nếu mạnh dạn hơn là từ bỏ việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao không đúng chỗ bởi vì dù người nào đó có học hàm, học vị, là chuyên gia, chuyên viên cao cấp, dù có bằng cấp chính trị thì vẫn không phải là loại người đa năng, lĩnh vực nào cũng hoạt động được, việc gì cũng làm được.
Công tác cán bộ là một trong những khâu then chốt có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp đổi mới và phát triển của đất nước nói chung và của Lâm Đồng nói riêng.
Cuối cùng, nên tiếp tục nhìn nhận lực lượng trí thức ở tuổi nghỉ hưu vẫn là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội để có cách tiếp cận, ứng xử và khai thác sử dụng tương ứng. Không ít người trong lực lượng này vẫn còn nhiều sức lực, nhiều tâm huyết và kỳ vọng mong muốn được tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và địa phương. Trong một số lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ, văn học nghệ thuật và quản lý, quản trị hành chính, vốn trí thức, kinh nghiệm được tích lũy trong một thời gian dài cùng với những kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp của họ vẫn cần được coi là tài sản vô giá của xã hội, phải được tiếp tục khai thác, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả./.
Online: 50
Ngày: 621Tháng: 29882
Tổng: 1216433