LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

Thực trạng và một số giải pháp phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 14 tháng 4 năm 2023

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2030

 

                                               Lương Văn Ngự

Nguyên Phó Giám đốc Sở Tài Nguyên Môi trường

 

        Trước hết, chúng ta cần khẳng định các Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII, IX, X, XI về phát triển kinh tế - xã hội là hoàn toàn đúng đắn, đã xác định rõ Nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là nền kinh tế chủ lực, Dịch vụ - Du Lịch là nền kinh tế động lực và Công nghiệp - Xây dựng là nền kinh tế hỗ trợ, tạo động lực cho phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh cho đến giai đoạn 2045 - 2050.

        1/ Thời kỳ mục tiêu theo sản lượng, giai đoạn chiến lược và định hướng phát triển cây trồng, vật nuôi đã qua mà cần phải chuyển đổi sang chất lượng và thương hiệu sản phẩm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng để phát triển bền vững trong thời kỳ mới.

        2/ Tình hình thế giới đang có nhiều biến động, giá đầu vào sản xuất tăng mạnh (xăng dầu, năng lượng, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi…) do đó cần phải chuyển nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp (Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XIII), tiếp cận toàn diện đối với các vấn đề toàn cầu, nguồn lực của Nhà nước đóng vai trò định hướng cho việc thúc đẩy tăng trưởng, qua đó dẫn dắt và thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân; đồng thời phải kiên trì thực hiện mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp carbon thấp “xanh, sinh thái và bền vững” xoay quanh ba trụ cột: “Nông nghiệp sinh thái”, “Nông thôn hiện đại”, và Nông dân thông minh”. Việc sử dụng phân, thuốc đã xuất hiện tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Hiện nay, phân thuốc đã trở thành một mê hồn trận (tại Lâm Đồng trong những thập niên qua, chúng ta đã sử dụng từ 1,0 đến 1,5 tấn phân bón hữu cơ và vô cơ/ha/năm, 20 lít thuốc BVTV/ha/năm). Dùng phân bón, thuốc BVTV và hóa chất trong nông nghiệp là một giải pháp tối ưu để tăng sản lượng. Tuy nhiên, từ sử dụng lạm dụng thì đất đai bị suy thoái, chất dinh dưỡng ít đi, cây trồng không còn nuôi dưỡng từ đất (cần xác định phải giảm chi phí, tăng chất lượng là chiến lược đúng hướng). Mô hình xen canh, đa canh (như bơ, sầu riêng...) trồng xen trong vườn cà phê tạo ra được tuần hoàn dinh dưỡng, vừa chắn gió, che nắng, tăng độ ẩm cho cây trồng.

        3/ Chúng ta nên khuyến khích và hỗ trợ cho doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân và vấn đề chính là chính quyền, quản lý nông nghiệp cần làm tốt công tác truyền thông, giới thiệu các mô hình về cách làm hay, như mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái, không hoặc ít chất thải vào quá trình sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần bảo vệ môi trường, tạo ra các nông sản an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng và tăng thu nhập cho người sản xuất, các mô hình này đã áp dụng một số địa phương trong tỉnh và một số địa phương trong cả nước như Thanh Hóa, Nam Định, Đồng Tháp… (cần cân nhắc và xem xét lại các mô hình nhà lưới, nhà kính, sử dụng điện kích thích cây hoa tại thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương, Đức Trọng trong những năm qua từ khuyến cáo trong các Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật tỉnh, ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn và các địa phương). Do vậy, cần tiếp tục lan tỏa và nhân rộng các mô hình theo hướng truyền thống kết hợp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học, sử dụng men vi sinh, chế phẩm sinh học... Cần truyền thông những mô hình sản xuất nông nghiệp chủ động, chuyển sang sử dụng chế phẩm, phân thuốc sinh học, vật tư đầu vào từ những nguyên liệu, phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi sẵn có ở địa phương, thân thiện với môi trường.

        Cá biệt còn có tình trạng “chính sách, pháp luật, đề án, kế hoạch ở trong phòng lạnh còn người nông dân ở ngoài đồng”. Chúng ta ít quan tâm đến các chính sách, cơ chế về thuế... đến chi phí đầu vào, quan tâm đến sản lượng nhiều hơn là chất lượng. Tất nhiên mọi thay đổi đều cần có quá trình, không thể ngày một, ngày hai là có ngay được (cây cà phê vùng Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà là cây công nghiệp dài ngày của tỉnh với diện tích trên 160.000 ha/ 346.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp), là cây có nhiều lợi thế của tỉnh nhưng đến nay không còn nhiều ưu thế nữa (cây so đo cam trồng ven đường QL 20, Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng).

       4/ Cần phải xác định rõ khoa học công nghệ là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

        5/ Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay đã mở ra cho nhiều ngành nghề mới, kéo theo nhiều việc làm mới, đồng thời cũng làm nhiều ngành nghề mất đi hoặc không còn ưu thế, lợi thế so sánh nữa, vì vậy việc đào tạo lại là công việc hết sức cần thiết và thiết thực đối với các doanh nghiệp và người lao động, nhất là đối với doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân ở các trình độ giáo dục nghề nghiệp để có kiến thức, kỹ năng phù hợp, có khả năng tiếp thu, làm chủ, khai thác, vận hành có hiệu quả những tiến bộ khoa học công nghệ 4.0 đi vào thực chất; thực hiện gắn kết, đáp ứng nhu cầu nhân lực, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh trong từng vùng.

        Nông nghiệp truyền thống vì mục tiêu duy nhất là sản lượng, nền nông nghiệp mới hướng tới vừa đạt muc tiêu sản lượng vừa đạt cái còn quan trọng hơn là chất lượng. Đó là chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, đưa khoa học công nghệ vào để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí đầu vào.

        Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta cần:

       1/ Nhìn thẳng thực trạng nền nông nghiệp địa phương để thay đổi sang tư duy kinh tế nông nghiệp tại tỉnh nhà.

      2/ Chuẩn bị và sử dụng lực lượng KHCN và con người cho phát triển nông nghiệp địa phương (Nông nghiệp theo nghĩa rộng) và đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin, công nghệ mới, công nghệ cao, đào tạo các kỹ năng thực hành đáp ứng yêu cầu công nghệ 4.0. Chúng ta cần quan tâm đến đầu tư cho con người nhiều hơn thay vì chỉ ưu tiên đầu tư hạ tầng và máy móc thiết bị (cần nội địa hóa sản xuất các máy móc thiết bị). Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của từng địa phương và quốc gia trong chiến lược phát triển đất nước.

      3/ Chuyển giao khoa học và công nghệ để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, phục vụ cộng đồng và thực hiện có hiệu quả Quyết định 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

        4/ Tiếp cận thị trường, xây dựng chuỗi cung ứng, chế biến và tiêu thụ nông sản, đối với các các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh.

        5/ Nghiên cứu sâu, khảo sát, điều tra nước mặn và nước dưới đất tại các vùng trong tỉnh và sử dụng công nghệ mới trong cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, nước sạch tại khu đô thị, dân cư, tập trung vào xử lý nước thải trong khu công nghiệp, bệnh viện và khu dân cư để giảm, tránh ô nhiễm nguồn nước từ vùng cao xuống vùng thấp tại các vùng trong tỉnh./.

 

Tin liên quan