LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số 05 Trần Nhân Tông, Phường Lâm Viên - Đà Lạt - Điện thoai: 0263.3533247 - 3521668 - Email: lienhiephoilamdong@gmail.com

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 - 2019

Danh mục: Tư vấn phản biện Ngày đăng: 08 tháng 4 năm 2022

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2016 - 2019

 

                                          Th.S Đào Thị Hiếu[1]

Khoa Xã hội học và Công tác xã hội, Đại học Đà Lạt

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế tập thể, hợp tác xã (HTX) luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các địa phương trong cả nước đã triển khai các hoạt động nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 13 –NQ/TW ngày 18/03/2002. Bên cạnh việc ban hành Nghị quyết này, ở nước ta đã có Luật HTX, các nghị quyết, quyết định, thông tư và một số văn bản khác liên quan đến HTX nhằm quy định, hướng dẫn để phát triển HTX. Trong giai đoạn 2016 – 2020, kinh tế tập thể, HTX đã tiếp tục được đổi mới và tạo ra bức tranh thay đổi rõ nét về cả số lượng lẫn chất lượng. Thực tiễn cho thấy có một số HTX đã chủ động trong việc nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất… Từ đó, quy mô và số lượng của HTX đã không ngừng tăng lên. Đặc biệt là số lượng lao động tham gia trong HTX, thu nhập của một bộ phận lao động được cải thiện đáng kể. Vì vậy, HTX cũng đã giúp xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.      

Bên cạnh thành tựu đạt được, trong giai đoạn 2016 – 2019, HTX cũng đã gặp những khó khăn, hạn chế nhất định. Cụ thể là HTX chưa phát triển một cách tương xứng với tiềm năng vốn có của nước ta, tốc độ tăng trưởng còn chậm, một bộ phận HTX chưa tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, chưa phát huy được nội lực của mỗi địa phương, khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn cũng như sự liên kết tạo thành chuỗi giá trị đầu ra cho sản phẩm, mối liên hệ giữa các hợp tác xã với doanh nghiệp chưa thể hiện mạnh mẽ.

Xuất phát từ vấn đề này, tác giả đã lựa chọn chủ đề “Vài nét về tình hình phát triển hợp tác xã ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2019” để đề cập đến một số căn cứ pháp lý nhằm hình thành, đổi mới và phát triển HTX ở nước ta. Đặc biệt là phân tích những kết quả đạt được cơ bản của HTX trong cả nước trên các chiều cạnh trong giai đoạn 2016 – 2019. 

2. Số liệu và phương pháp nghiên cứu

Ở bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp. Cụ thể đó là sử dụng nguồn dữ liệu trong Báo cáo Hợp tác xã Việt Nam năm 2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp và phân tích các căn cứ pháp lý của Quốc Hội, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành… Ngoài ra, tác giả cũng phân tích bài viết có liên quan đến chủ đề nhằm tìm hiểu quan điểm liên quan đến phát triển HTX.

3. Một số khái niệm cơ bản

Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX (Luật Hợp tác xã năm 2012).  

Lao động trong hợp tác xã: Toàn bộ số lao động do HTX quản lý, sử dụng và trả lương, trả công. 

Thành viên hợp tác xã: Toàn bộ cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, tự nguyện đóng góp công sức và góp vốn đầy đủ tham gia HTX để sử dụng dịch vụ và sản phẩm của HTX, có tên trong sổ đăng ký thành viên của HTX (Luật Hợp tác xã năm 2012).   

Nguồn vốn: Toàn bộ số vốn của HTX được hình thành từ vốn hoạt động và các khoản nợ phải trả của HTX:  

- Vốn hoạt động: Gồm vốn góp của thành viên, HTX thành viên, vốn huy động, vốn tích lũy, các quỹ của HTX, liên hiệp HTX; các khoản trợ cấp hỗ trợ của nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; được tặng, cho và các nguồn thu hợp pháp khác (Quy định tại Thông tư 83/2015/TT-BTC).   

- Nợ phải trả: Tổng các khoản nợ phát sinh của HTX phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm: nợ tiền vay ngắn hạn, dài hạn, vay trong nước, vay nước ngoài; các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước; các khoản phải trả cho người lao động và các khoản phải trả khác.  

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Căn cứ pháp lý để phát triển HTX

Để có thể triển khai phát triển HTX, các địa phương đã dựa trên căn cứ pháp lý nhằm thực hiện một cách cụ thể và hiệu quả cao. Một số căn cứ pháp lý để phát triển HTX ở nước ta như sau:

- Ngày 18 tháng 03 năm 2002, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 13–NQ/TW đề cập đến việc đổi mới, phát triển kinh tế tập thể nhằm khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế HTX trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động này hướng đến việc cần phải tập trung nguồn lực phát triển HTX nhằm giúp HTX phát huy được những điểm mạnh, góp phần nâng cao tỷ trong trong nền kinh tế quốc dân. 

- Bên cạnh đó, có rất nhiều văn bản hướng dẫn, chính sách đặc thù của các cấp, ngành đã được ban hành để hiện thực hóa Nghị quyết 13-NQ/TW. Đặc biệt là Quốc Hội đã thông qua Luật HTX năm 2012, luật số: 23/2012/QH13, ngày 20 tháng 11 năm 2012. Đây là cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của HTX hơn nữa. 

- Một số nghị định liên quan đến HTX là: 

+ Nghị định 94/2005/NĐ-CP ngày 15/07/2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và HTX bị phá sản... Đồng thời, nước ta cũng đã có rất nhiều chính sách ưu đãi dành cho HTX.  

+ Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, HTX.

+ Nghị định 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật HTX năm 2012 để các HTX thi hành. 

+ Nghị định 103/2014/NĐ-CP ngày 11/11/2014 về quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, HTX, Tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và cơ quan tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động.

Về thông tư trực tiếp hướng dẫn HTX có các thông tư cơ bản sau:  

+ Thông tư 04/2007/TT-NHNN ngày 13/06/2007 về sửa đổi, bổ sung Thông tư 06/2004/TT-NHNN ngày 27/09/2004 hướng dẫn về tín dụng nội bộ HTX do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành. 

+ Thông tư 24/2010/TT-BTC ngày 23/02/2010 hướng dẫn kế toán áp dụng cho HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và nghề muối do Bộ Tài chính ban hành. 

+ Thông tư 173/2012/TT-BTC ngày 22/10/2012 về sửa đổi, bổ sung Thông tư 66/2006/TT-BTC hướng dẫn cơ chế tài chính hỗ trợ sáng lập viên HTX chuẩn bị thành lập, các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của HTX do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. 

+ Thông tư 31/2012/TT-NHNN ngày 26/11/2012 quy định về ngân hàng HTX do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.

+ Thông tư 33/2013/TT-BLĐTBXH ngày 16/12/2013 về hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. 

+ Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26/05/2014 về hướng dẫn đăng ký HTX và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của HTX do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.

Ngoài ra, còn có các Thông tư khác liên quan đến từng nội dung đặc thù hoạt động của HTX.

- Quyết định trực tiếp đối với HTX của cấp Trung ương là:

+ Quyết định số 60/2007/QĐ-BTC ngày 11/07/2007 về lãi suất cho vay vốn của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.  

+ Quyết định số 384/QĐ-TTg ngày 16/03/2011 về bổ sung kinh phí thành lập mới, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ HTX, tổ hợp tác do Thủ tướng Chính phủ ban hành. 

+ Quyết định số 1280/QĐ-BNN-HTQT ngày 30/05/2012 phê duyệt dự án “Tăng cường chức năng HTX nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn II” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.   

+ Quyết định số 2261/QĐ-TTg ngày 15/12/2014 phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển HTX  giai đoạn 2015-2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành.  

Bên cạnh đó còn có các quyết định khác của Trung ương cũng đề cập đến HTX. Đối với các quyết định đó có liên quan đến nội dung: Bồi dưỡng nguồn nhân lực; xúc tiến thương mai, mở rộng thị trường; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới; thành lập mới; tổ chức lại hoạt động của HTX; chính sách ưu đãi về thuế đất đai, mặt nước chính sách ưu đãi thuế… Đồng thời, năm 2017 Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, HTX ở Trung ương đã được thành lập. Từ đó, việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, cấp huyện đã được bắt đầu.  

Trong những năm qua, khi thực hiện Nghị Quyết số 13-NQ/TW, nước ta đã có nhiều cơ chế, chính sách đối với kinh tế HTX đã được ban hành. Điều này đã giúp cho HTX đã ngày càng có những bước tiến mới nhằm thể hiện vai trò, vị trí và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.   

4.2. Một số kết quả của việc phát triển HTX của nước ta giai đoạn 2016 – 2019 

- Về số HTX hiện có trong giai đoạn 2016 – 2019:  

Cả nước có 21.979 HTX, tăng 10,9% so với bình quân giai đoạn 2013 – 2015. Trong đó có 2/63 địa phương có HTX có trên 1000 HTX là Hà Nội (1.780 HTX) và Hà Tĩnh (1.274 HTX). Bên cạnh đó, về tốc độ tăng số lượng HTX, nước ta có 35/63 địa phương có tốc độ tăng số HTX hiện có bình quân giai đoạn 2016 – 2019 so với giai đoạn 2013 – 2015 cao hơn tốc độ tăng bình quân chung của cả nước (10,9%). Trong đó, có 10 tỉnh có tốc độ tăng trên 50%, cụ thể là:     

Biểu đồ 1: Các tỉnh có tốc độ tăng số lượng HTX trên 50% (ĐTV: %)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Hợp tác xã Việt Nam năm 2021. Nxb. Thống kê.

- Thành viên HTX hiện có giai đoạn 2016-2019:

Số thành viên trong các HTX hiện có là 6.081.011 thành viên, giảm 21,1% so với bình quân giai đoạn 2013-2015. Trong đó, cả nước có 18/63 địa phương thu hút số thành viên HTX trên 100.000 người, và 6 địa phương có số thành viên HTX trên 300.000 người. Cụ thể là Hà Nội 588.535 thành viên (giảm 46,3% so với bình quân năm giai đoạn 2013-2015); Thái Bình 488.042 thành viên (giảm 5,6%); Hải Dương 389.650 thành viên (giảm 0,9%); Nam Định 385.591 thành viên (giảm 14,8%); Bình Định 322.342 thành viên (giảm 42,5%); Quảng Ngãi 316.992 thành viên (giảm 12,7%). Đồng thời, nước ta có 34/63 địa phương có số thành viên HTX từ 10.000 đến 100.000 người; Có 11/63 địa phương có số thành viên HTX dưới 10.000 người, trong đó 5 địa phương có số thành viên HTX dưới 4.000 người gồm: Cà Mau 3.799 thành viên; Cao Bằng 3.597 thành viên; Lạng Sơn 3.393 thành viên; Lai Châu 2.345 thành viên; Bắc Kạn 1.232 thành viên.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016-2019 cũng có 23/63 địa phương có tốc độ

tăng số thành viên trong các HTX hiện có cao hơn so với giai đoạn 2013-2015 (6 địa phương có mức tăng trên 20% gồm: Quảng Nam tăng 68,2%; Bình Phước tăng 47,6%; Hà Giang tăng 38,6%; Đắk Nông tăng 34,6%; Bến Tre tăng 29,5%; Sơn La tăng 23,1%). Mặt khác, có 21/63 địa phương có số thành viên trong các HTX hiện có bình quân giai đoạn 2016-2019 so với giai đoạn 2013-2015 thấp hơn tốc độ giảm bình quân chung của cả nước (giảm 21,1%), trong đó 6 địa phương có tốc độ giảm trên 40% (Tuyên Quang, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa, Bình Định).

  • HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2016-2019

Về số HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh bình quân giai đoạn 2016-2019 của cả nước là 13.642 HTX, tăng 5,0% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Trong đó, có 5 địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng HTX, đó là Hà Nội 1.308 HTX; Hà Tĩnh 979 HTX; Thanh Hóa 721 HTX; Nghệ An 490 HTX ; Hải Dương 458 HTX. Mặc dù các địa phương này có số lượng HTX dẫn đầu nhưng chủ yếu cũng có số lượng giảm so với giai đoạn 2013 – 2015.

Bên cạnh đó, có 29/63 địa phương có tốc độ tăng số HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh bình quân giai đoạn 2016-2019 cao hơn mức tăng chung của cả nước. Trong đó có 15/63 địa phương có tốc độ tăng trên 30% gồm: Sơn La tăng 295,0%; Bình Phước tăng 107,7%; Bắc Kạn tăng 90,5%; Quảng Ninh tăng 81,7%; Kiên Giang tăng 79,5%; Lâm Đồng tăng 75,9%; Hà Tĩnh tăng 72,9%; Lạng Sơn tăng 67,4%; Đồng Nai tăng 61,5%; Đắk Lắk tăng 54,1% và Thái Nguyên tăng 53,6%.

Ngoài ra, ở nước ta cũng có 8/63 địa phương có tốc độ tăng số HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh bình quân giai đoạn 2016-2019 thấp hơn mức tăng chung của cả nước so với bình quân giai đoạn 2011-2015; có 26/63 địa phương có số HTX bình quân giai đoạn 2016-2019 so với bình quân giai đoạn 2011-2015 là giảm. 

  • Lao động của HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh

Trong cả nước, giai đoạn 2016-2019, bình quân HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh thu hút 188.637 lao động, giảm 14,3% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Cả nước có 4 địa phương thu hút bình quân trên 10.000 lao động/năm làm việc tại các HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, cụ thể là Hà Nội là 18.695 lao động; thành phố Hồ Chí Minh là 14.719 lao động; Thanh Hóa là 10.390 lao động, Hà Tĩnh là 10.006 lao động. Nhưng hầu hết số lượng lao động của các địa phương này cũng giảm so với giai đoạn 2013-2015.

Bên cạnh đó có 12/63 địa phương có tốc độ thu hút lao động làm việc tại HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh tăng so với bình quân giai đoạn 2011-2015, trong đó 9 địa phương có tốc độ tăng trên 20% gồm: Sơn La tăng 195,0%; Bình Phước tăng 87,9%; Kiên Giang tăng 81,7%; Bắc Kạn tăng 66,2%; Hà Tĩnh tăng 65,2%; Lâm Đồng tăng 62,5%; Bạc Liêu tăng 46,6%; Hậu Giang tăng 43,8%; Tiền Giang tăng 39,4%. Ngoài ra có 35/63 địa phương có tốc độ thu hút lao động làm việc tại HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh bình quân giai đoạn 2016-2019 so với bình quân giai đoạn 2011-2015 giảm nhiều hơn bình quân của cả nước.

- Nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh của HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh

Trong giai đoạn 2016-2019, mỗi năm HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh thu hút 213.803 tỷ đồng vốn cho sản xuất kinh doanh, tăng 45,6% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Khi xét theo khu vực kinh tế, HTX khu vực dịch vụ hiện thu hút vốn chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ khu vực HTX. Bình quân giai đoạn 2016-2019 mỗi năm khu vực này thu hút 168.723 tỷ đồng vốn cho sản xuất kinh doanh, chiếm 78,9% vốn của toàn bộ khu vực HTX, tăng 48,2% so với bình quân giai đoạn 2011-2015; khu vực công nghiệp và xây dựng thu hút 24.270 tỷ đồng, chiếm 11,4%, tăng 26,9%; khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thu hút vốn thấp nhất với 20.810 tỷ đồng, chiếm 9,7%; tăng 49,7%. Qua đó cho thấy rằng, ở nước ta việc huy động nguồn vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong giai đoạn 2016-2019 là có tăng lên rất nhiều so với những giai đoạn trước đó.

  • Thu nhập của người lao động

Mặc dù việc đầu tư nguồn vốn, khoa học kỹ thuật vào sản suất được HTX quan tâm nhưng thu nhập của người lao động cũng được xem là vấn đề rất quan trọng trong quá trình phát triển HTX. Bởi vì, khi yếu tố thu nhập của người lao động được cải thiện, nâng cao thì xu hướng duy trì, phát triển HTX có nhiều triển vọng hơn.

Thu nhập bình quân tháng một lao động làm việc ở HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh cả nước giai đoạn 2016-2019 đạt 3,8 triệu đồng, tăng 52,3% so với thu nhập bình quân giai đoạn 2011-2015. Cả nước có 7/63 địa phương thu nhập bình quân tháng một lao động trong HTX giai đoạn 2016-2019 trên 5 triệu đồng.

Biểu đồ 2: Các địa phương có thu nhập bình quân tháng trên 5 triệu đồng (ĐTV: triệu đồng)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Hợp tác xã Việt Nam năm 2021. Nxb. Thống kê.

Bên cạnh đó, có 13/63 địa phương có thu nhập bình quân tháng một lao động trong HTX giai đoạn 2016-2019 dưới 2,5 triệu đồng. Từ đó thấy rằng, mức thu nhập của lao động trong HTX đang có sự khác biệt giữa các vùng miền, đặc biệt là còn có địa phương có nguồn thu nhập bình quân tháng một lao động trong HTX vẫn khá thấp.

- Chuyển dịch cơ cấu HTX theo địa phương, vùng kinh tế

Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm tỷ trọng lớn về số lượng, lao động, nguồn vốn của các HTX; trong khi vùng Đông Nam Bộ có tỷ trọng lớn về doanh thu và lợi nhuận của các HTX. Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 địa phương tập trung phần lớn các nguồn lực về HTX của cả nước. 

Còn đối với vùng Tây Nguyên có các chỉ tiêu bình quân giai đoạn 2016-2019 so với giai đoạn 2011-2015 như sau: Số HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh chiếm 4,3% (tăng 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 2011-2015); số lao động chiếm 3,7% (không thay đổi so với giai đoạn 2011-2015); nguồn vốn chiếm 5,1% (giảm 0,5 điểm phần trăm); doanh thu thuần chiếm 4,7% (tăng 1,4 điểm phần trăm); lợi nhuận trước thuế chiếm 4,5% (tăng 1,4 điểm phần trăm). Trong đó, Kon Tum là địa phương có quy mô HTX nhỏ nhất cả nước. Từ đó cho thấy rằng, vùng Tây Nguyên vốn là vùng phát triển về nông nghiệp và có nhiều nguồn lực để có thể phát triển HTX nhưng trong giai đoạn 2016 – 2019 thì mức độ chuyển dịch cơ cấu HTX vẫn đang còn chưa tương xứng với tiềm lực vốn có.  

5. Giải pháp

Thứ nhất là cần phải gia tăng sự phát triển HTX cả về số lượng và chất lượng. Sự vận hành của HTX phải gắn liền với các mô hình sản xuất hàng hóa, dịch vụ phù hợp với bối cảnh của thị trường để tạo được vị thế, niềm tin trong cộng đồng. 

Thứ hai là phát triển HTX phải gắn liền giải quyết các vấn đề của địa phương, vừa góp phần tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết được công ăn việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, bình đẳng giới, tạo sự đoàn kết xã hội, phát huy nội lực cộng đồng,…

Thứ ba là phát triển HTX gắn liền với việc áp dụng thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ, hình thành chuỗi giá trị cho sản phẩm, dịch vụ.

Thứ tư là tăng cường hoạt động nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề của đội ngũ lao động tham gia HTX, đặc biệt là quan tâm đến nhóm phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo…

Thứ năm là để HTX ra đời và phát triển tốt thì cần có sự hỗ trợ của Nhà nước về các mặt: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là đường giao thông, điện, nước; tuyên truyền, khuyến khích, quảng bá cho các HTX.

Thứ sáu là HTX phải được tổ chức theo những khâu, quy trình mà chỉ có HTX làm thì tốt hơn hộ gia đình, tư nhân làm; từ đó HTX có thể khẳng định được vị thế, vai trò và phát triển bền vững hơn.

6. Kết luận

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, HTX luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương đúng đắn, kịp thời nhằm phát huy lợi thế vốn có của HTX. Điều đó được thể hiện thông qua Nghị quyết số 13 –NQ/TW ngày 18/03/2002, Luật HTX, các nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản có liên quan đến sự hình thành, đổi mới và phát triển của HTX nước ta.

Trong giai đoạn 2016-2019, HTX đã có những thành tựu nhất định. Cụ thể là một số địa phương đã có sự gia tăng về số lượng HTX, thu hút thêm thành viên vào HTX, tăng 5% số HTX đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, gia tăng nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh của HTX, áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất… Bên cạnh đó, một số địa phương thì thu nhập bình quân 1 tháng của người lao động làm việc trong HTX có sự cải thiện đáng kể hơn so với giai đoạn 2013 – 2015.

Tuy nhiên, nhìn chung trong giai đoạn 2016 – 2019 tổng số thành viên tham gia HTX của cả nước là giảm 21,1% so với bình quân giai đoạn 2013-2015. Mặc dù, mức thu nhập bình quân của người lao động trong 1 tháng (đạt 3,8 triệu đồng) có cao hơn so với giai đoạn 2011-2015 nhưng mức thu nhập này đang còn thấp. Ngoài ra, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của HTX đang còn chậm. Vì vậy cần phải thực hiện tốt các giải pháp nhằm có thể giúp cho HTX thích ứng được với bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay. Mặt khác, HTX có thể có cơ hội khẳng định vị thế, vai trò quan trọng trong quá trình đóng góp phát triển kinh tế quốc dân. Đồng thời, HTX sẽ góp phần giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, bình đẳng giới, tạo sự đoàn kết xã hội, phát huy nội lực cộng đồng./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phan Trọng An. Kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản và bài học rút ra cho Việt Nam. http://iasvn.org/upload/files/786NM881WC1_an_phantrong.pdf , truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2021.
  2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Ngày 14 tháng 10 năm 2019. Hà Nội.
  3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Hợp tác xã Việt Nam năm 2021. Nxb. Thống kê.
  4. Bộ Tài chính (2015). Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với hợp tác xã. Số: 83/2015/TT-BTC, ngày 28 tháng 05 năm 2015.

Quốc hội (2012). Luật Hợp tác xã. Luật số: 23/2012/QH13, ngày 20 tháng 11 năm 2012. 

 

 

[1] Khoa Xã hội học và Công tác xã hội, Trường Đại học Đà Lạt.

Tin liên quan